27/11/2020 09:59        

Chuyển đổi số: Giải pháp căn cơ giúp doanh nghiệp nâng sức cạnh tranh

Thương mại điện tử đang tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong các hoạt động mua sắm, trao đổi hàng hóa.

Điều này càng được khẳng định trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, trong khi các giao dịch trực tiếp gần như gián đoạn thì thương mại điện tử vẫn đem lại hiệu quả cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận trực tiếp với khách hàng quốc tế, thúc đẩy doanh số, tăng tốc quá trình tiếp thị và tiết kiệm chi phí.

Đây cũng là nội dung chính của Hội thảo: "Thúc đẩy doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo chuyển đổi số thành công trên nền tảng Thương mại điện tử," do Báo Công Thương phối hợp với Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp Khoa học công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức ngày 27/11, tại Hà Nội.

Quy mô ngày càng tăng

Theo thống kê của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), quy mô thị trường thương mại điện tử B2C Việt Nam bao gồm doanh thu tất cả hàng hóa, dịch vụ bán qua kênh thương mại điện tử liên tục tăng trong 5 năm qua.

Nếu như 2015, số người tham gia mua sắm trực tuyến chỉ khoảng 30,3 triệu người thì 5 năm sau (tức là năm 2019) đã có 44,8 triệu người tham gia.

Cùng với đó, giá trị mua sắm trực tuyến của một người cũng có thay đổi nhanh chóng, từ 160 USD vào năm 2015 tăng lên 225 USD vào 2019.

Với sự phát triển nhanh chóng như trên, ông Ngô Hoàng Gia Khánh, Phó Tổng Giám đốc Phát triển Doanh nghiệp tại Tiki, cho biết trong thời điểm hiện nay, doanh nghiệp có nhiều cơ hội để kinh doanh thành công trên các sàn thương mại điện tử.

Theo đó, doanh nghiệp có thể không mất phí xây dựng và vận hành; giảm chi phí marketing, nhờ tiếp cận trực tiếp với tập khách hàng lớn; giảm chi phí đầu tư nhân sự; tăng chất lượng dịch vụ.

Đặc biệt, các sàn thương mại điện tử cung cấp đa dạng mô hình vận hành, giúp doanh nghiệp linh hoạt trong việc quản lý tồn kho và cung ứng sản phẩm cũng như thủ tục lên sàn đơn giản, nộp hồ sơ và duyệt trực tuyến.

Qua các thống kê, ông Trần Xuân Thủy, Giám đốc Global Selling Amazon Việt Nam cũng đưa ra con số rất ấn tượng về tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử trong năm nay sẽ vượt 6 lần so với bán hàng truyền thống.

Đặc biệt, dự báo quy mô thương mại điện tử xuyên biên giới sẽ vượt quá 3.300 tỷ USD trong 2 năm tới.

“Trong đại dịch, các kênh bán hàng trực tuyến là phương thức an toàn nhất để người tiêu dùng mua sắm các nhu yếu phẩm. Việc chuyển đổi hình thức mua sắm từ trực tiếp sang trực tuyến sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai dài hạn,” ông Trần Xuân Thủy nói.

Một báo cáo gần đây được công bố bởi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã nhận định đại dịch COVID-19 đã chứng minh thương mại điện tử không chỉ là một công cụ hay giải pháp hữu ích đối với người tiêu dùng trong thời kỳ khủng hoảng, mà còn là động lực kinh tế đối với sự tăng trưởng của thương mại nội địa và quốc tế, từ đó góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

“Dù đại dịch COVID-19 tác động đến kinh tế-thương mại toàn cầu song doanh thu thương mại điện tử tại Việt Nam năm 2020 vẫn tăng trưởng ở mức 2 con số,” bà Nguyễn Thúy Anh, Trưởng phòng nghiên cứu ứng dụng kinh tế số (Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số), thông tin thêm.

Nắm bắt cơ hội để thành công

Có thể thấy, trong xu hướng hiện nay, thương mại điện tử không phải là quá xa vời với cả doanh nghiệp và người tiêu dùng. Song ông Trịnh Hoàng Linh, Giám đốc điều hành iExport, Công ty CP Procom Việt Nam lại đưa ra một khảo sát không mấy khả quan với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME).

Theo đó, vẫn có hơn 70% các doanh nghiệp SME Việt Nam chưa triển khai xây dựng kênh thương mại điện tử cho doanh nghiệp, đặc biệt là thương mại điện tử quốc tế.

Nguyên nhân chính là doanh nghiệp có sản phẩm tốt nhưng không biết làm thương hiệu, chỉ làm gia công cho khách hàng theo kiểu bán trực tiếp cho thương lái hoặc tìm kiếm khách hàng tại các hội chợ triển lãm quốc tế, họ không quan tâm đến thương mại điện tử hoặc doanh nghiệp chưa có kiến thức về thương mại điện tử quốc tế.

“Nhiều chủ doanh nghiệp biết về thương mại điện tử quốc tế nhưng không có kinh nghiệm và chưa biết cách làm nên khi bắt tay vào làm thì gặp nhiều khó khăn dẫn đến việc triển khai không hiệu quả, dần dần họ sẽ nghĩ rằng thương mại điện tử là không hiệu quả và từ bỏ nó,” ông Trịnh Hoàng Linh dẫn chứng.

Để hóa giải những bất cập này, ông Nguyễn Thế Quang, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), cho biết nhờ công nghệ BigData, IoT, doanh nghiệp có thể phân tích hành vi của người tiêu dùng ở mọi thị trường. Qua đó, doanh nghiệp có thể tự cải tiến sản phẩm theo nhu cầu tiêu dùng, xây dựng chiến lược chăm sóc khách hàng, chiến lược tiếp thị đúng đối tượng với chi phí thấp…

“Cơ hội là ngang nhau nhưng thành công là khác biệt. Các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể nắm bắt được cơ hội hôm nay để có thể gặt hái được nhiều thành công trong tương lai,” ông Nguyễn Thế Quang chia sẻ thêm.

Năm 2020, thế giới và Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội lẫn thách thức từ các chuyển động, biến động toàn cầu; trong đó tác động của dịch COVID-19 đã chứng minh chuyển đổi số trên nền tảng thương mại điện tử là điều kiện tất yếu.

Trong Kế hoạch tổng thể phát triển Thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021-2025 được Thủ tướng phê duyệt đã nêu rõ thương mại điện tử là một trong các lĩnh vực tiên phong của nền kinh tế số, giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh.

Chính phủ cũng đặt mục tiêu đến năm 2025, doanh số thương mại điện từ B2C (hình thức kinh doanh từ doanh nghiệp, công ty tới khách hàng) tính cho cả hàng hóa và dịch vị tiêu dùng trực tuyến tăng 25%, đạt 35 tỷ USD, chiếm 10% so với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước.

Để thực hiện mục tiêu này, đại diện Bộ Công Thương cho biết Chính phủ xác định thương mại điện tử là nơi các công nghệ tiên tiên tiến của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được ứng dụng rộng rãi để tăng hiệu quả, sản xuất-kinh doanh.

Việc phát triển thương mại điện tử, kinh tế số được thực hiện theo mô hình lựa chọn và hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm một số lĩnh vực và địa phương, để tạo sự dẫn dắt, lan tỏa trong xã hội.

Kết nối chuỗi sản xuất: Phát triển công nghiệp hỗ trợ liên vùng

Thúc đẩy liên kết vùng không chỉ tạo nên lợi thế cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, mà còn hình thành nên mối quan hệ tương hỗ, giúp từng tỉnh thành khai thác tiềm năng sẵn có của địa phương.

Mỹ Phương (TTXVN/Vietnam+) 27/11/2020 06:00 GMT+7

Nhằm tạo bệ đỡ cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phát triển thuận lợi hơn trong bối cảnh bình thường mới, vừa qua Ban quản lý Khu công nghệ cao phối hợp với Trung tâm Phát triển công nghiệp hỗ trợ Thành phố Hồ Chí Minh đã ký kết thỏa thuận hợp tác với Ban Quản lý các khu chế xuất-khu công nghiệp-khu kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm Long An, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Đây là hoạt động nằm trong Chương trình Phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn năm 2019-2025, theo Quyết định số 2869/QĐ-UBND ngày 5/7/2019 của Ủy ban Nhân dân thành phố.

Xúc tiến hợp tác địa phương

Thỏa thuận hợp tác giữa Ban quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh với Ban Quản lý các khu chế xuất-khu công nghiệp-khu kinh tế trọng điểm phía Nam, cũng là hoạt động hiện thực hóa mục tiêu hình thành mạng lưới tổ chức, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ bằng giải pháp kết nối vùng.

Đồng thời, tăng cường liên kết lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ giữa Thành phố Hồ Chí Minh với những địa phương lân cận, nhất là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Trao đổi với phóng viên TTXVN, bà Lê Bích Loan, Phó trưởng Ban quản lý Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết để nâng cao vai trò liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cần phát huy hơn nữa vai trò dẫn dắt của sở, ngành thông qua hợp tác song phương, tiến đến hợp tác đa phương với những chương trình cụ thể giữa các địa phương.

Chính vì vậy, thúc đẩy liên kết vùng, không chỉ có ý nghĩa tạo nên lợi thế cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, mà còn hình thành nên mối quan hệ tương hỗ, giúp từng tỉnh, thành khai thác tiềm năng sẵn có của địa phương.

Bà Lê Bích Loan chỉ ra rằng đối với hoạt động liên kết vùng thì không thể không kể đến những cam kết hàng hàng như cùng nhau chia sẻ thông tin dữ liệu cơ bản, kết nối chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng sản xuất của doanh nghiệp đầu ngành và doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, địa phương thỏa thuận hợp tác chung tay từng bước mở nút thắt trong kết nối cung-cầu, nhất là sản phẩm công nghiệp hỗ trợ giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước, nhà cung cấp với doanh nghiệp sản xuất; giới thiệu doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tham gia vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp đa quốc gia sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh.

Cùng quan điểm, ông Phạm Văn Cường, Phó trưởng Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai cho hay, bước đầu ký kết, Thỏa thuận hợp tác giữa Ban quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh với Ban Quản lý các khu chế xuất-khu công nghiệp-khu kinh tế trọng điểm phía Nam, trong đó, có tỉnh Đồng Nai, sẽ tập trung vào những mục tiêu chung và tiếp theo sẽ tiến dần đến triển khai chương trình hành động cụ thể với những đề án, kế hoạch chi tiết.

Riêng tỉnh Đồng Nai đang không ngừng thúc đẩy mạng lưới cảng xuất nhập khẩu, kết nối hạ tầng giao thông đi các tỉnh Đông Nam bộ sẽ tạo điều kiện lưu thông hàng hóa, kết nối thương mại, kêu gọi đầu tư...

Tỉnh Đồng Nai có lợi thế giao thông với sân bay quốc tế, nguồn nhân lực trẻ, khu công nghiệp có nhà ở công nhân...

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng có quỹ đất rộng dành cho đa dạng dự án đầu tư, ưu đãi thuế đất, cấp giấy chứng nhận đầu tư 15 ngày, hỗ trợ thủ tục hành chính khác...

Đây là những điều kiện thuận lợi mà doanh nghiệp trong và ngoài nước có thể khai thác đầu tư, còn ngành công nghiệp hỗ trợ nội địa có thể tận dụng cơ hội trở thành nhà cung cấp và gia nhập chuỗi cung ứng, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển bền vững.

Đại diện một số Ban Quản lý các khu chế xuất-khu công nghiệp-khu kinh tế trọng điểm phía Nam cũng đánh giá, việc liên kết vùng có vai trò hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay, nhất là thúc đẩy hình thành mạng lưới tổ chức, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ sẽ giúp các địa phương thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ và tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm trong sản xuất, kinh doanh.

Hơn thế nữa, các tỉnh, thành sẽ xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có tính liên kết mạnh sẽ tạo động lực hát huy các nguồn lực và tiềm năng của doanh nghiệp trong nước.

Nội địa hóa sản phẩm

Với vai trò là trung tâm kinh tế, đầu mối giao thương, đầu tư, xuất nhập khẩu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định công nghiệp hỗ trợ là một trong những ngành trọng điểm của thành phố; trong đó, Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh cùng Ban quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp (HEPZA) và Ban quản lý khu công nghệ cao (SHTP) đã triển khai đa dạng hoạt động, giúp doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cung ứng, tạo điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất, từng bước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Điển hình, hội nghị tìm kiếm tìm kiếm nhà cung cấp công nghiệp hỗ trợ được tổ chức định kỳ hàng năm là điểm đến cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ gặp gỡ, tiếp cận trực tiếp doanh nghiệp FDI và nhà sản xuất công nghiệp có chiến lược nội địa hóa về sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

Bên cạnh đó, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, duy trì hoạt động kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài, nhất là doanh nghiệp công nghiệp quốc tế.

Theo ông Dương Anh Đức, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nếu doanh nghiệp sản xuất trong nước được tạo bệ đỡ từ ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ định hình được cơ hội thị trường, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và chinh phục thị trường quốc tế.

Đặc biệt, không chỉ những công ty đầu ngành, mà doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được tạo động lực khuyến khích tích cực đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực trong sản xuất kinh doanh. Từ đó, góp phần sản xuất và quảng bá hình ảnh sản phẩm, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thành phố.

Ông Dương Anh Đức cũng cho hay Thành phố Hồ Chí Minh mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ của nhà đầu tư nước ngoài tham gia hoạt động kết nối cung cầu của thành phố với doanh nghiệp, liên kết công nghiệp hỗ trợ để thành phố phát triển mạng lưới nhà sản xuất có năng lực, làm bệ đỡ cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phát triển bền vững.

Hiện tại, Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng và hình thành những nhóm sản phẩm như nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực và nhóm sản phẩm công nghiệp tiềm năng của Thành phố Hồ Chí Minh; sản phẩm công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ tiêu biểu Thành phố Hồ Chí Minh... và đang tiến đến ra mắt nhóm thương hiệu Vàng của thành phố.

Nhóm ngành sản xuất, trong đó có công nghiệp hỗ trợ sẽ khó khăn trong chuyển đổi số hơn nhóm ngành thương mại, nhưng doanh nghiệp cần phải thay đổi để tối ưu hóa nguồn lực sản xuất, tăng năng suất, giảm chi phí và rút ngắn thời gian đưa sản phẩm đến khách hàng.

Doanh nghiệp có thể phát triển công nghệ ngay từ khi bắt đầu sản xuất, hoặc thừa hưởng những công nghệ đã được doanh nghiệp khác đã áp dụng thành công. Tuy nhiên, dù có thay đổi như thế nào thì công nghệ thông tin trong thời đại số luôn là một phương pháp tiên phong, dẫn đầu và là một xu thế tất yếu.

Ở góc độ chuyên gia, ông Hirai Shinji, Trưởng đại diện Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá ở ngành chế tạo, tỷ lệ thu mua nội địa của Việt Nam từ sau năm 2010 dần có sự gia tăng, tuy nhiên, nếu nói tỷ lệ gia tăng cao những năm gần đây thì so với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia thì khoảng cách chưa được rút ngắn.

Trong khi đó, gần đây nhiều nhà đầu tư, sản xuất, kinh doanh quốc tế rất quan tâm và yêu cầu việc hình thành một hệ thống cung ứng bền vững và đáng tin cậy thông qua đa dạng hóa cơ sở sản xuất.

Do đó, Việt Nam muốn duy trì vị thế là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất đối với doanh nghiệp Nhật Bản nói riêng và nhà đầu tư các nước nói chung khi mở rộng kinh doanh ra nước ngoài, thì việc phát triển những cụm công nghiệp bằng mạng lưới kết nối kinh doanh, thúc đẩy công nghệ sản xuất là yêu cầu cấp thiết.

Để tận dụng cơ hội từ xu hướng thiết lập và mở rộng nhà máy tại Việt Nam của tập đoàn quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, các chuyên gia cho rằng, nhà sản xuất Việt Nam cần nâng cao lợi thế cạnh tranh bằng những giải pháp, gồm: cập nhật máy móc, công nghệ mới, tăng năng suất, giảm tiêu hao, nâng cao trình độ nguồn lao động...

Song song với đó, nhà sản xuất Việt Nam quan tâm đúng mức trong việc bổ sung thêm về biện pháp thắt chặt mối liên kết giữa ngành công nghiệp hỗ trợ các nước như chia sẻ cơ sở dữ liệu trực tuyến, tổ chức kết nối kinh doanh, nâng cao năng lực cho xưởng sản xuất, kết nối đào tạo tại nhà máy.../.

Mỹ Phương (TTXVN/Vietnam+)
 








Đa phương tiện

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 2020

Hoạt động KHCN
Đề tài dự án khoa học
Thị trường Công nghệ
Công nghệ
Khởi nghiệp sáng tạo
Giao quyền kết quả NCKHCN
Sở hữu trí tuệ
An toàn bức xạ
Giải thưởng KH&CN Khánh Hòa
T.Chuẩn - Đ.Lường - C.Lượng
Quy hoạch KH&CN
Hàng rào KT trong thương mại
Khoa học công nghệ cơ sở
Hoạt động sáng kiến
Thanh tra
Liên kết